TRUNG TÂM Y TẾ KHU VỰC BẾN CÁT HƯỞNG ỨNG NGÀY THẾ GIỚI
NHÂN THỨC VỀ TỰ KỶ (02/04)
Tự kỷ, hay rối loạn
phổ tự kỷ (ASD), đề cập đến một loạt các tình trạng đặc trưng bởi những khó
khăn về kỹ năng xã hội, hành vi lặp đi lặp lại, lời nói và giao tiếp phi ngôn
ngữ. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh, ước tính hiện nay có khoảng 1 trong 31
trẻ em và 1 trong 45
người lớn ở Hoa Kỳ
mắc chứng tự kỷ.
Mặc dù chỉ có chuyên gia y tế mới có thể
chẩn đoán chứng tự kỷ, nhưng có một số công cụ sàng lọc có thể giúp cha mẹ,
người chăm sóc và người tự kỷ nhận biết các triệu chứng tiềm ẩn của chứng tự
kỷ. Sàng lọc sớm chứng tự kỷ có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ
và hỗ trợ, từ đó tác động đến kết quả tương lai của người tự kỷ.
TỰ
KỶ
I.TỰ KỶ LÀ GÌ?
Tự kỷ, hay rối loạn
phổ tự kỷ (ASD), đề cập đến một loạt các tình trạng đặc trưng bởi những khó
khăn về kỹ năng xã hội, hành vi lặp đi lặp lại, lời nói và giao tiếp phi ngôn
ngữ. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh, ước tính hiện nay có khoảng 1 trong 31
trẻ em và 1 trong 45
người lớn ở Hoa Kỳ
mắc chứng tự kỷ.
Mặc dù chỉ có chuyên gia y tế mới có thể
chẩn đoán chứng tự kỷ, nhưng có một số công cụ sàng lọc có thể giúp cha mẹ,
người chăm sóc và người tự kỷ nhận biết các triệu chứng tiềm ẩn của chứng tự
kỷ. Sàng lọc sớm chứng tự kỷ có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ
và hỗ trợ, từ đó tác động đến kết quả tương lai của người tự kỷ.
II. NGUYÊN NHÂN
Có
nhiều nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ, nghiên cứu cho thấy rối loạn phổ tự kỷ (ASD) phát triển từ
sự kết hợp của các yếu tố sau:
- Ảnh hưởng di truyền và
- Các yếu tố ảnh hưởng từ môi trường, bao gồm cả các yếu tố quyết định về mặt xã hội.
Những yếu tố này dường
như làm tăng nguy cơ mắc chứng tự kỷ và định hình loại tự kỷ mà trẻ sẽ phát
triển. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là tăng nguy cơ không đồng nghĩa với
việc là nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ. Ví dụ, một số
thay đổi gen liên quan đến chứng tự kỷ cũng có thể được tìm thấy ở những người
không mắc chứng rối loạn này. Tương tự, không phải ai tiếp xúc với yếu tố nguy
cơ môi trường gây ra chứng tự kỷ cũng sẽ mắc chứng rối loạn này. Trên thực tế,
hầu hết sẽ không mắc phải.
Những
yếu tố môi trường có liên quan đến chứng tự kỷ
Theo Viện Khoa học Sức
khỏe Môi trường Quốc gia , một số tác động từ môi trường có thể làm tăng nguy cơ
mắc chứng tự kỷ:
- Tuổi cha mẹ cao
- Tiếp xúc với ô nhiễm không khí hoặc một số loại thuốc trừ sâu trong thời kỳ trước sinh.
- Béo phì ở mẹ, tiểu đường hoặc rối loạn hệ thống miễn dịch
- Sinh non cực kỳ sớm hoặc cân nặng khi sinh rất thấp
- Biến chứng khi sinh dẫn đến tình trạng thiếu oxy tạm thời ở não của em bé.
III. DẤU HIỆU NHẬN BIẾT TỰ KỶ
1.Dấu hiệu tự kỷ ở trẻ sơ sinh
Trong
vòng 6 tháng:
- Rất ít hoặc không có nụ cười tươi tắn hay những biểu cảm ấm áp, vui vẻ và thu hút khác.
- Giao tiếp bằng mắt hạn chế hoặc không có.
Trong
vòng 9 tháng:
- Rất ít hoặc không có sự trao đổi qua lại bằng âm thanh, nụ cười hoặc các biểu cảm khuôn mặt khác.
2. Dấu hiệu tự kỷ ở trẻ nhỏ
Trong
vòng 12 tháng
- Ít hoặc không bập bẹ
- Hầu như không có hoặc rất ít cử chỉ tương tác qua lại như chỉ trỏ, thể hiện, với tay hoặc vẫy tay.
- Hầu như không có phản hồi nào khi được gọi tên.
Trong
vòng 16 tháng
- Rất ít hoặc không có từ nào
Trong
vòng 24 tháng
- Rất ít hoặc không có cụm từ hai từ có nghĩa (không bao gồm việc bắt chước hoặc lặp lại).
3. Dấu hiệu tự kỷ ở mọi lứa tuổi
- Mất khả năng nói, bập bẹ hoặc kỹ năng xã hội đã học được trước đó.
- Tránh giao tiếp bằng mắt
- Sự ưa thích dai dẳng đối với sự cô độc
- Khó khăn trong việc thấu hiểu cảm xúc của người khác.
- Chậm phát triển ngôn ngữ
- Sự lặp đi lặp lại dai dẳng các từ hoặc cụm từ (echolalia)
- Kháng cự với những thay đổi nhỏ trong thói quen hoặc môi trường xung quanh.
- Lợi ích bị hạn chế
- Các hành vi lặp đi lặp lại (vỗ tay, lắc lư, xoay tròn, v.v.)
- Phản ứng bất thường và mạnh mẽ đối với âm thanh, mùi, vị, xúc giác, ánh sáng và/hoặc màu sắc.
IV.
ĐIỀU TRỊ
Hiện nay không có một phương pháp nào
điều trị khỏi rối loạn phổ tự kỷ hoặc dứt điểm các triệu chứng. Tuy nhiên một
số phương pháp can thiệp có thể cải thiện các chức năng ở người có rối loạn phổ
tự kỷ.
Các phương pháp đó bao gồm:
Can thiệp sớm: Nghiên cứu cho thấy các điều trị can thiệp sớm có
thể cải thiện đáng kể sự phát triển của trẻ. Can thiệp sớm giúp trẻ từ sơ sinh
đến 3 tuổi học các kỹ năng quan trọng. Các can thiệp này bao gồm liệu pháp để
giúp đứa trẻ các vấn đề về thể chất (cầm nắm, lăn, bò, đi bộ), giao tiếp (nói,
nghe, hiểu); nhận thức (tư duy, học hỏi, giải quyết vấn đề); xã hội / cảm xúc
(vui chơi, cảm thấy an toàn và vui vẻ); tự giúp đỡ (ăn, mặc quần áo). Điều quan
trọng là cha mẹ nên nói chuyện với bác sĩ càng sớm càng tốt nếu nghĩ rằng trẻ
có dấu hiệu của rối loạn phổ tự kỷ hoặc vấn đề phát triển khác.
Tiếp cận về hành vi và giao tiếp gồm: Phân tích hành vi ứng dụng
(Applied Behavior Analysis – ABA), hệ thống giao tiếp qua tranh ảnh (Picture
Exchange Communication Syste – PECS)…
Các tiếp cận dinh dưỡng: Một số liệu pháp dinh dưỡng được phát
triển bởi các nhà trị liệu tin cậy. Tuy nhiên, nhiều phương pháp điều trị chưa
được chứng minh về mặt khoa học. Vì thế trước khi lựa chọn nó, cha mẹ nên tham
khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng.
Dùng thuốc: Không có thuốc nào có thể chữa được rối loạn phổ tự
kỷ hoặc thậm chí là điều trị các triệu chứng cốt lõi. Nhưng có một số loại
thuốc có thể giúp ích đối với những triệu chứng có liên quan đến tự kỷ: cáu
gắt, gây hấn, những vấn đề về chú ý, kích động, lo âu và trầm cảm. Tuy nhiên,
cần lưu ý là nên hỏi ý kiến bác sĩ, không nên sử dụng thuốc bừa bãi vì có thể
gây hại cho trẻ.
Các phương pháp bổ sung và thay thế: Để giảm triệu chứng của rối loạn
phổ tự kỷ, cha mẹ và người chăm sóc còn sử dụng các phương pháp như ăn kiêng,
chelation – loại bỏ kim loại nặng (ví dụ như chì) ra khỏi cơ thể, sinh học…
ngoài những gì đã được bác sĩ đề nghị. Những phương pháp này đang gây nhiều
tranh cãi, nghiên cứu cho thấy có đến 1/3 cha mẹ có thể đã sử dụng phương pháp
bổ sung và thay thế bằng thuốc, 10% có thể đã sử dụng phương pháp điều trị nguy
hiểm.
V. DỰ PHÒNG
Dự phòng và can thiệp rối
loạn phổ tự kỷ (ASD) tập trung vào tầm soát sớm (18-24 tháng), đánh giá các
khiếm khuyết dai dẳng trong giao tiếp xã hội và hành vi lặp lại, từ đó phân loại
mức độ, để áp dụng các biện pháp can thiệp hành vi, giáo dục đặc biệt phù hợp.
Nguồn : TTYT Bến Cát